Thứ Hai, 28 tháng 3, 2016
THỨ BẢY BÁT NHẬT PHỤC SINH
Mc 16,9-15
Người
nói với các ông:
"Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ,
loan báo Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo.”
(Mc 16,15)
"Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ,
loan báo Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo.”
(Mc 16,15)
1. Bài
Tin Mừng chúng ta vừa nghe là phần cuối của Tin Mừng Marcô. Đoạn này có lẽ
không phải do Marcô viết mà do một người nào đó viết thêm vào. Đây là một bản
tóm lược 3 cuộc hiện ra của Chúa Giêsu sau khi Ngài từ cõi chết sống lại:
Chúa hiện
ra cho Maria Mađalêna.
Chúa hiện
ra cho hai môn đệ đi đàng Emmau.
Và Chúa
hiện ra cho mười một tông đồ.
Đoạn Tin
Mừng này nhấn mạnh:
- Thái độ
không tin của các tông đồ: Không tin lời của Maria Mađalêna, cũng không tin lời
của hai môn đệ Emmau.
- Chúa
Giêsu khiển trách thái độ không tin ấy.
- Sau khi
làm cho các ông tin, Chúa Giêsu sai các ông “đi khắp thế gian rao giảng Tin Mừng
cho muôn dân” (Mc 16,15).
2. Các
môn đệ lúc đầu đã không tin mặc dù đã nghe các phụ nữ kể lại việc Chúa Giêsu hiện
ra. Các ông cũng vẫn không chịu tin khi nghe thêm hai môn đệ thuật lại cuộc gặp
gỡ của họ với Đấng Phục Sinh. Phải đợi tới lúc Chúa đến thì các ông ấy mới tin.
Xét như vậy thì chúng ta thấy đức tin không do suy luận, cũng không do có bằng
chứng người ta kể lại, nhưng đức tin là việc Chúa làm, do Chúa ban.
Sau khi
khiển trách các môn đệ về thái độ cứng lòng tin của họ, Chúa Giêsu đã củng cố lại
lòng tin đó, rồi Ngài mới sai các ông đi rao giảng. Rao giảng là chia sẻ niềm
tin của mình cho người chưa tin hay còn yếu đức tin. Vì thế, phải tin rồi mới
đi rao giảng. Các môn đệ đã có đức tin rồi, nên Chúa tin tưởng trao phó trách
nhiệm loan báo Tin Mừng của Chúa để họ loan báo lại cho những người khác.
Có một
câu chuyện ngụ ngôn rất hay về vấn đề này. Chuyện kể rằng, sau khi chịu nạn chịu
chết trên thập giá, Chúa Giêsu đã Phục Sinh trở về Thiên Đàng trong uy nghi hiển
vinh. Dầu đã được vinh quang nhưng tay chân Ngài vẫn còn mang thương tích. Các
thiên sứ hân hoan đón chào Chúa. Quang cảnh đang nhộn nhịp vui tươi thì bỗng có
một thiên sứ đặt vấn đề:
- Chắc là
Chúa đã phải chịu thống khổ vô cùng vì loài người dưới đó?
Chúa
Giêsu đáp:
- Đúng vậy!
Thiên sứ
hỏi tiếp:
- Có phải
tất cả mọi người đều đã biết những gì Chúa làm cho họ không?
Chúa
Giêsu trả lời:
- Chưa,
chỉ mới có một số ít người biết mà thôi.
Thiên sứ
hỏi tiếp:
- Thế thì
Chúa làm gì để giúp cho mọi người được biết?
Chúa
Giêsu đáp:
- Ta đã
trao Phêrô, Giacôbê, Gioan và các đồ đệ của ta trách nhiệm đi nói với những người
khác, rồi những người khác lại nói cho những người khác nữa, rồi cho những người
này lại nói cho những người kia, cho đến lúc những người ở nơi xa xôi nhất trên
địa cầu cũng đều được nghe.
Thiên sứ
nhìn Chúa với vẻ nghi ngờ. Vị này đã quá hiểu rõ lòng dạ con người như thế nào,
nên nói tiếp:
- Vâng,
nhưng nếu như Phêrô, Giacôbê, Gioan và các môn đệ của Chúa quên đi thì sao? Hoặc
nếu họ mệt mỏi không còn tha thiết gì đến việc loan báo nữa thì sao? Hay như những
người ở thế kỷ 20 này không chịu thực hiện trọng trách việc thuật lại câu chuyện
tình yêu của Chúa cho những người khác nữa thì sao? Liệu Ngài có lập một chương
trình nào khác không?
Chúa
Giêsu trả lời:
- Không!
Ta không sắp đặt một chương trình nào khác. Ta đặt tin tưởng nơi họ.
Chúa vẫn
tin tưởng nơi những ai tin ở Chúa.
3. Chúng
ta cũng phải làm chứng cho Chúa trước mặt mọi người. Việc này phải được coi là
một bổn phận khi chúng ta được Chúa thương nhận chúng ta làm con của Chúa qua
Bí Rửa Tội.
Nhà văn
hào Tolstoi của Nga đã ghi lại trong một câu chuyện ngắn một cuộc thoại của ba
người khách bộ hành như sau:
Mệt mỏi
vì đường xa, ba người bộ hành đã dừng lại nghỉ chân bên một dòng suối. Bên cạnh
dòng suối trong mát, mỗi người cảm thấy sảng khoái và hứng khởi nên họ nói lên
cảm tưởng của mình về lợi ích của nó.
Người thứ
nhất lên tiếng: "Còn gì sung sướng bằng gặp được một dòng suối mát bên vệ
đường! Nước suối trong vắt không những làm cho chúng ta được tươi mát, mà còn mời
gọi chúng ta sống thành thật với nhau".
Người bộ
hành thứ hai góp ý: "Dòng suối chảy như không ngừng muốn nói với tôi rằng:
“Hỡi loài người, hãy làm việc! Hãy làm việc không ngừng để làm cho thế giới được
tốt đẹp hơn".
Sau một
phút trầm ngâm, người bộ hành thứ ba mới thốt lên: "Những gì các bạn vừa
phát biểu đều đúng cả. Nhưng còn có một điều quan trọng hơn nữa tôi muốn chia sẻ
với các bạn. Các bạn hãy nhìn kìa, dòng suối này chảy không ngừng. Nó ban phát
không ngừng, nó ban phát cho tất cả mọi người mà không đòi hỏi một sự đáp trả
nào... mỗi người chúng ta hãy sống cao thượng như thế".
Lạy Chúa
Giêsu, Chúa đã sống lại, xin phục sinh tâm hồn con để chúng con đem niềm vui Phục
Sinh đến cho mọi người. (Epphata)
THỨ SÁU BÁT NHẬT PHỤC SINH
Ga 21,1-14
"Đức
Giêsu đến, cầm lấy bánh trao cho các ông;
rồi cá, Người cũng làm như vậy.” (Ga 21,13)
rồi cá, Người cũng làm như vậy.” (Ga 21,13)
Bài Tin Mừng
hôm nay là phần cuối của Tin Mừng Gioan. Gioan viết để tường thuật về việc Chúa
hiện ra với các tông đồ trên bờ biển hồ Tibêria. Nhờ mẻ cá lạ mà các tông đồ nhận
ra Chúa. Người đầu tiên nhận ra Chúa là Gioan, và kế đến là các tông đồ khác.
Cuối cùng, là một bữa ăn thân mật bên bờ hồ sau khi Thầy trò đã nhận ra nhau.
1. Có
một chi tiết nhỏ nhưng khá thú vị nếu chúng ta để ý: Đó là khi hiện ra với các
môn đệ sau khi Phục Sinh, Chúa Giêsu luôn hiện ra với các ngài trong những
khung cảnh của cuộc sống đời thường. Chắc là Chúa phải có một dụng ý khi làm
như thế. Thí dụ trong bài Tin Mừng hôm nay, tuy Chúa có hẹn với các môn đệ của
Chúa là Ngài sẽ gặp họ ở Galilê, nhưng Chúa không xác định rõ nơi chốn. Rõ ràng
trước đó các môn đệ đã tụ tập nhau lại và họ chờ đợi Chúa. Thế nhưng, Chúa đã
không đến với họ lúc họ chờ đợi mà lại đến với họ lúc họ cùng nhau đi làm việc.
Rất nhiều
người trong chúng ta tưởng rằng, muốn được gặp Chúa thì chúng ta phải đi tới
nơi nọ nơi kia, phải đến Đền thờ nọ Đền thờ kia. Việc Chúa hiện ra với các môn
đệ trong bài Tin Mừng hôm nay có lẽ phải là cơ hội cho chúng ta suy nghĩ lại.
Chúng ta có thể gặp được Chúa trong mọi hoàn cảnh của cuộc sống.
Nhà văn
Julia A. Manhan kể lại rằng: Ngày nọ, có một cậu bé muốn gặp Chúa. Cậu nghe nói
rằng, phải qua một cuộc hành trình dài mới đến được nơi Chúa ở. Vì thế, cậu bé
chuẩn bị những chiếc bánh ngọt và một hộp 6 lon nước cho vào cái túi nhỏ rồi
lên đường.
Khi cậu
đi được vào khoảng ba dãy phố, cậu gặp một bà lão. Bà cụ ngồi trong công viên mắt
đăm đăm nhìn những con chim bồ câu. Cậu ngồi xuống cạnh bà và mở túi ra. Chưa kịp
đưa nước lên uống thì cậu thấy bà lão có vẻ đói bụng. Cậu lấy chiếc bánh mời bà
lão. Bà nhận chiếc bánh với đầy vẻ biết ơn và mỉm cười với cậu. Nụ cười của bà
đẹp đến nỗi cậu bé muốn được nhìn lại lần nữa. Thế là cậu đưa thêm cho bà lon
nước. Bà lại mỉm cười với cậu. Cậu bé rất thích thú.
Hai bà
cháu ngồi với nhau ở đó suốt cả buổi chiều, ăn uống và mỉm cười, nhưng không ai
nói lời nào.
Trời tối,
đứng lên chuẩn bị ra về, nhưng vừa đi được một bước, cậu quay lại, chạy về phía
bà lão và ôm bà. Bà đã tặng lại cậu bé nụ cười đẹp chưa từng thấy.
Một lát
sau cậu về đến nhà. Khi cậu bé vừa mở cửa, mẹ cậu đã sửng sốt khi nhìn thấy niềm
vui rạng rỡ trên con mình.
Mẹ cậu hỏi:
- Hôm nay
có chuyện gì mà con hạnh phúc thế?
Cậu trả lời:
- Con đã
ăn bữa trưa với Chúa!
Bà chưa kịp
nói gì thì cậu bé thêm:
- Mẹ biết
không, Chúa có nụ cười tuyệt đẹp mà con chưa từng thấy!
Trong khi
đó, bà lão trở về nhà cũng đem theo một niềm hạnh phúc. Con trai bà cụ rất ngạc
nhiên khi thấy vẻ bình an thanh thản trên khuôn mặt mẹ, anh hỏi:
- Mẹ ơi,
hôm nay con có điều gì làm mẹ hạnh phúc thế?
Bà lão
đáp:
- Mẹ ăn
bánh trong công viên với Chúa!
Trước khi
cậu con trai kịp nói thì bà thêm:
- Con biết
không, Chúa trẻ hơn mẹ tưởng nhiều!
2. Con
người ai cũng mong muốn được hạnh phúc. Nhưng nhiều khi hạnh phúc chỉ như một
chiếc bóng. Chúng ta mãi mê chạy theo một chiếc bóng mà quên rằng, niềm vui
đích thực, hạnh phúc đích thực lại nằm ngay trong chính tầm tay của chúng ta.
Câu chuyện gặp gỡ giữa Chúa Giêsu và các môn đệ hôm nay cho chúng ta thấy điều
đó.
Tin Mừng
thuật lại, các môn đệ đã thả lưới thâu đêm mà không bắt được con cá nào. Tình cờ
có một người lạ mặt xuất hiện bảo họ hãy thả lưới bên phải và mẻ cá nhiều đến nỗi
lưới muốn rách và thuyền muốn chìm. Chúa Giêsu đến với các môn đệ như một người
vô danh, không kèn, không trống, không một biểu dương rầm rộ nào. Ngài đến một
cách kín đáo nhẹ nhàng. Ngài hiện diện một cách âm thầm và vô danh như chính
sinh hoạt thường nhật của chúng ta. Chúa Giêsu đã chọn cảnh sống thường ngày của
con người để hiện ra với các môn đệ. Ngài đến vào giữa lúc các ông đang thả lưới.
Ngài tham dự vào bữa ăn của các ông. Ánh lửa mà Chúa Giêsu đã đốt lên bên bờ hồ
Tibêria buổi sáng hôm đó đã soi sáng tâm hồn các môn đệ, để các ông hiểu rằng,
Chúa Kitô Phục Sinh đang có mặt trong từng phút, từng giây của cuộc sống con
người và chỉ có sự hiện diện ấy mới có đủ sức biến những sinh hoạt tầm thường
nhất của con người như làm việc, ăn uống, ngủ nghỉ trở thành những niềm vui
đích thực trong cuộc sống.
Lạy Chúa
Giêsu Phục Sinh, xin cho chúng con cảm nếm được niềm vui vì có Chúa luôn hiện
diện với chúng con. Amen.
THỨ NĂM BÁT NHẬT PHỤC SINH
Lc 24,35-48
"Chính
anh em là chứng nhân về những điều này.” (Lc 24,48)
1. Thánh
Luca tường thuật tiếp về cuộc hiện ra lần thứ hai của Chúa Giêsu Phục Sinh với
các môn đệ của Ngài. Lần này Chúa hiện ra cho các tông đồ ở Jêrusalem:
Trong lúc
hai môn đệ vừa trở về từ Emmau đang kể lại cho nhóm mười một việc Chúa hiện ra
với các ông ấy như thế nào thì Chúa Giêsu hiện đến.
Ngài chứng
minh cho các ông hiểu sau khi sống lại, Ngài vẫn là một như trước: cũng có chân
tay xương thịt, và cũng biết ăn uống.
Ngài dùng
Thánh Kinh để cắt nghĩa.
Ngài bảo
các ông nhân danh Ngài “rao giảng sự thống hối và sự ăn năn để lãnh ơn tha tội.”
(Lc 24,47)
2. “Chính
Thầy đây. Hãy sờ xem: Ma đâu có xương thịt như Thầy có đây” (Lc 24,39). Chúa
Giêsu Phục Sinh đang sống và hiện diện ngay trong cuộc sống của những người tin
Chúa. Đây không phải chỉ là một kiểu nói, không phải chỉ là niềm tin, mà là sự
thật. Chúa Giêsu hôm qua, hôm nay và mãi mãi là một. Chúng ta phải xác tín thật
mạnh về sự thật đó để rồi từ đó chúng ta xây dựng nên một xã hội huynh đệ hơn.
Ngày kia,
có một đan viện phụ Công giáo tìm đến một vị tu sĩ Ấn giáo tại chân núi
Himalaya. Với tất cả ưu tư phiền muộn, vị đan viện phụ trình bày về tình trạng
bi đát của tu viện do ông điều khiển. Trước kia tu viện này là một trong những
trung tâm Công giáo thu hút không biết bao nhiêu là khách hành hương hằng năm.
Nhà nguyện lúc nào cũng vang lên tiếng ca hát của các tu sĩ và giáo dân đến từ
khắp nơi. Các căn phòng lúc nào cũng có người ở.
Nay tu viện
gần như trở thành một ngôi chùa trống vắng. Làn sóng những người trẻ tìm đến tu
viện hầu như không còn. Nhà nguyện vắng tanh không ai lui tới. Một số nhỏ tu sĩ
còn lại thì sống trong uể oải, buông thả…Vị viện phụ muốn hỏi vị tu sĩ Ấn giáo
xem đâu là nguyên nhân đưa đến tình trạng này? Phải chăng vì một tội lỗi tày
đình nào đó mà bàn tay Chúa đã đè nặng trên cộng đoàn?
Sau khi
nghe viện phụ kể lể, vị tu sĩ Ấn giáo mới ôn tồn nói:
- Cái tội
đã và đang xảy ra trong cộng đoàn: đó là tội vô tình.
Vị tu sĩ Ấn
giáo mới giải thích như sau:
- Đấng Cứu
Thế đã cải trang thành một người giữa chư vị, nhưng chư vị đã vô tình không nhận
ra Ngài.
Nhận được
lời giải thích của vị tu sĩ Ấn giáo, đức viện phụ hối hả quay trở về tu viện,
trong lòng ông không khỏi miên man đặt câu hỏi: “Ai là người được Đấng Cứu Thế
đang mượn hình dáng để ở lại với loài người?”. Cả tu viện bây giờ không có đến
10 người. Đấng Cứu Thế ở với ai đây? Chắc không thể là mình, vị tu viện trưởng
nghĩ như thế vì ông biết mình là một con người tội lỗi yếu hèn. Nhưng ông cũng
biết rõ các tu sĩ khác trong tu viện. Cũng chẳng có người nào toàn vẹn, xứng
đáng để Đấng Cứu Thế mượn lấy hình dáng của họ. Thế nhưng, ông vẫn tin lời của
vị tu sĩ Ấn giáo là Đấng Cứu Thế đang cải trang thành một người nào đó trong cộng
đoàn.
Với niềm
xác tín ấy, ông qui tụ tất cả các tu sĩ lại và loan báo cho mọi người biết rằng,
Đấng Cứu Thế đang cải trang thành một người trong nhà. Nghe tin ấy, đôi mắt mỗi
người đã mở to và ai nấy bắt đầu dò xét từng người trong nhà. Chỉ có điều chắc
chắn là: bởi vì Đấng Cứu Thế đã cải trang cho nên không ai có thể nhận ra Ngài
được. Thành ra mỗi người trong nhà đều có thể là Đấng Cứu Thế. Và từ đó mọi người
sống với nhau như chính mình đang sống với Đấng Cứu Thế. Rồi chẳng mấy chốc bầu
khí yêu thương huynh đệ, sức sống và niềm vui đã trở lại với tu viện. Cuộc sống
thánh thiện như thế không mấy chốc được đồn thổi đi khắp nơi. Và các tín hữu lại
từ khắp nơi trở lại tu viện để tĩnh tâm và cầu nguyện. Nhiều người trẻ cũng đến
gõ cửa nhà dòng.
3. Vâng!
Nếu người người ai cũng nhìn nhau và đối xử với nhau như đối xử với chính Chúa
Giêsu, thì có lẽ hận thù, chiến tranh sẽ không còn có lý do để tồn tại trên mặt
đất này. Sự vắng bóng Thiên Chúa trong xã hội, hay đúng hơn sự vô tình của con
người làm cho họ không nhận ra Thiên Chúa trong cuộc sống: đó là đầu mối của mọi
thứ bất hoà, chiến tranh xáo trộn trong xã hội.
Kinh nghiệm
cho chúng ta thấy khi con người chối bỏ Thiên Chúa thì cũng có nghĩa là họ sẽ
chối bỏ con người.
Con người
là hình ảnh cao quý của Thiên Chúa. Con Thiên Chúa đã trở thành con người và tự
đồng hóa với con người. Từ nay, con người chỉ có thể nhận ra Ngài trong mỗi người
anh em của mình. Thánh thiện hay tội lỗi, giàu sang hay nghèo hèn, bạn hữu hay
thù địch, mỗi một con người đều là hình ảnh của Thiên Chúa và chỉ có xuyên qua
tình yêu đối với con người, con người mới có thể đến với Thiên Chúa.
THỨ TƯ BÁT NHẬT PHỤC SINH
Lc 24,13-35
"Mắt
họ liền mở ra và họ nhận ra Người,
nhưng Người lại biến mất.” (Lc 24,31)
nhưng Người lại biến mất.” (Lc 24,31)
1. Sau
Mátthêô và Gioan, đến phiên thánh Luca tường thuật. Tin Mừng của Luca được gọi
là “Tin Mừng của người môn đệ”.
Có hai
môn đệ, nhưng Luca chỉ nêu tên một người là Clêôpha, người kia không tên, có lẽ
Luca muốn độc giả hiểu người vô danh ấy là bất cứ môn đệ nào của Chúa. Độc giả
cũng có thể coi mình là chính môn đệ ấy để được chia sẻ với người môn đệ này những
cảm nghiệm thật thú vị trên đường.
Hai môn đệ
này là những người đã có một thời theo Chúa. Thế nhưng, cái chết của Chúa đã
khiến họ hoang mang và bỏ cuộc. Họ đang cùng nhau trên đường trở về quê quán của
mình.
Hai môn đệ
đã bỏ Chúa nhưng Chúa không bỏ họ. Ngài vẫn đồng hành với họ dù họ không nhận
ra Ngài.
Để làm sống
lại niềm tin nơi hai môn đệ này, Chúa Giêsu đã dùng hai phương thế: Thánh Kinh
và việc “bẻ bánh”. Thánh Kinh và Bí tích Tạ ơn đã giúp họ tìm lại được niềm tin
và cuộc đời của họ đã được đổi mới.
Như vậy,
chúng ta có thể nói: Ý chính của bài tường thuật này là: Chúa Giêsu Phục Sinh vẫn
đang sống, Ngài ở kề bên chúng ta. Hai nơi thuận tiện nhất để chúng ta nhận ra
Ngài là Thánh Kinh và Thánh Lễ.
2. Khi
không nêu tên người môn đệ kia, thánh Luca dường như muốn cho chúng ta hiểu rằng,
mỗi người chúng ta là người môn đệ ấy. Hãy đặt mình vào con người của người môn
đệ ấy để cảm nghiệm được niềm vui khi nhận ra Chúa Phục Sinh.
Khi đức
tin của chúng ta bị lung lay, bị thử thách, chúng ta hãy chạy đến với Thánh
Kinh, Bí tích Thánh Thể, cộng đoàn sống đức tin để xây dựng lại. Thánh Kinh,
Thánh Thể và cộng đoàn đức tin là ba cột trụ vững chắc để nâng đỡ niềm tin của
chúng ta.
Jacques
Loew là người phu khuân vác ở bến tàu. Anh là đảng viên của đảng Lao Động Thụy
Sĩ. Bỗng một hôm anh nảy ra ý định thử đi tìm hiểu điều mà những người Công
giáo vẫn tin tưởng là có thực đó là “có một Thiên Chúa”. Anh muốn biết điều đó
có thực hay không? Muốn là làm. Anh tìm đến một dòng khổ tu và nói rõ ý định của
mình với cha bề trên của dòng. Với nụ cưới thật tươi trên môi, cha bề trên rất
cảm động nói với anh những lời này:
- Anh đã
đi đúng đường rồi đó, anh cứ tiếp tục đi đi. Anh hãy coi tu viện đây như là nhà
của anh.
Rồi cha bề
trên giơ tay chỉ nhà nguyện và nói:
- Đây là
nhà nguyện, nếu anh muốn xin mời anh vào.
Lúc ấy
nhà nguyện đang có Thánh lễ. Jacques Loew đi vào. Anh quì xuống như bao người
khác. Rồi anh cứ quì mãi trong khi những người khác đã thay đổi vị thế, khi ngồi,
khi đứng. Đến lúc đã mỏi gối, anh ngồi lên thì lúc đó lại là lúc mọi người khác
trong nhà nguyện đều quì sụp xuống vì đó là lúc truyền phép Mình Máu Thánh
Chúa.
Đến lúc
rước lễ, hầu như tất cả đều lên rước lễ, trừ anh thì cứ ngồi lại tại chỗ. Anh
nghĩ thầm trong lòng: Mình thật không giống ai.
Ngồi ngó
những người lên rước lễ đi xuống, anh nhận ra có rất nhiều khuôn mặt khác nhau:
người học thức, kẻ có địa vị cao ngoài xã hội, và dĩ nhiên cũng có cả những người
bình dân nữa. Jacques Loew tự hỏi: Sao những người này mê tín thế? Ăn miếng
bánh nhỏ bằng đồng xu kia để làm gì? Họ có điên không?
Nhưng rồi
ý tưởng trên đây của Loew đã bị một tư tưởng khác tấn công: không lẽ tất cả những
người học thức, có địa vị ngoài xã hội hơn mình, họ lại điên, còn mình thì lại
khôn sao? Hay là ngược lại, tôi điên?
Thế rồi,
Jacques Loew bắt đầu đi tìm hiểu về phép Thánh Thể với cha bề trên. Sau một thời
gian, anh đã tâm sự:
"Bây
giờ tôi có thể nói như hai môn đệ Emmau: "Tôi nhận ra Ngài lúc Ngài bẻ
bánh". Chính lúc bẻ bánh chúng tôi mới biết là chúng tôi là anh chị em với
nhau trong Chúa Kitô. Có những người mà trước đó gặp ở ngoài đường, chúng tôi dửng
dưng như người xa lạ, nhưng trên bàn tiệc thánh, chúng tôi thấy gần gũi với
nhau. Tôi gặp Chúa Kitô nơi họ, cũng như họ gặp Chúa Kitô nơi tôi, bởi chúng
tôi cùng tin Tin Mừng, cùng lãnh nhận một của ăn là Mình và Máu Chúa
Kitô". Sau này Jacques Loew đã trở thành một linh mục. Ngài đã hoạt động rất
tốt trong phong trào Linh Mục thợ.
Lạy Chúa,
Xin ở lại với con, lạy Chúa,
vì con cần có Chúa hiện diện
để con khỏi quên Chúa.
Xin ở lại với con, lạy Chúa,
vì con cần có Chúa hiện diện
để con khỏi quên Chúa.
Xin ở lại
với con, lạy Chúa,
vì con yếu đuối,
con cần Chúa đỡ nâng để con khỏi ngã quỵ.
vì con yếu đuối,
con cần Chúa đỡ nâng để con khỏi ngã quỵ.
Xin ở lại
với con, lạy Chúa,
vì trời đã xế chiều và ngày sắp tàn.
Cuộc đời qua đi, vĩnh cửu gần đến.
Con cần được thêm sức mạnh
để khỏi ngừng lại dọc đường.
vì trời đã xế chiều và ngày sắp tàn.
Cuộc đời qua đi, vĩnh cửu gần đến.
Con cần được thêm sức mạnh
để khỏi ngừng lại dọc đường.
Xin ở lại
với con, lạy Chúa,
vì con cần Chúa trong đêm tối cuộc đời.
Con không dám xin những ơn siêu phàm,
chỉ xin ơn được Ngài hiện diện. Amen.
vì con cần Chúa trong đêm tối cuộc đời.
Con không dám xin những ơn siêu phàm,
chỉ xin ơn được Ngài hiện diện. Amen.
THỨ BA BÁT NHẬT PHỤC SINH
Ga 20,11-18
Bà
Maria Mađalêna đi báo cho các môn đệ:
"Tôi đã thấy Chúa",
và bà kể lại những điều Người đã nói với bà.”
(Ga 20,18)
"Tôi đã thấy Chúa",
và bà kể lại những điều Người đã nói với bà.”
(Ga 20,18)
1. Việc
Phục Sinh của Chúa Giêsu đã biến đổi hẳn ý nghĩ và tình cảm của con người trước
cái chết. Trường hợp bà Maria Mađalêna là một thí dụ. Khi thấy xác Chúa không
còn ở trong mồ, bà buồn, bà khóc. Nhưng rất may Chúa đã hiện ra với bà, gọi tên
bà và bà đã nhận ra Chúa. Mọi sự thay đổi bắt đầu từ đây.
Người ta
kể khi thấy chồng gần đất xa trời, bà De Gaulle cho gọi một nhân viên mai táng
đến, nhờ ông tìm cho người chồng sắp quá cố của bà là Tổng Thống Charles De
Gaulle đã về hưu một nơi an nghỉ cuối cùng. Người này thân hành chở bà đến một
sườn đồi. Trước mặt là một thung lũng tuyệt đẹp. Ông nói:
- Đây là
nơi an nghỉ rất xứng đáng cho người chồng vĩ đại của bà, và cũng chỉ tốn
200.000 francs. (Một số tiền rất lớn... nếu tính theo thời giá hôm nay thì khoảng
gần 5 tỷ đồng VN)
Trong lúc
bà còn đang phân vân, ông ta nói tiếp:
- Ông nhà
thật xứng đáng được hưởng sự ưu đãi đó.
Vừa nghe
tới đó bà vội vàng đáp lại một lời làm cho ông cụt hứng:
- Nhưng
ông ấy chỉ cần 3 ngày thôi mà!(Góp nhặt)
(Ý bà muốn
nói Chúa Giêsu chỉ cần ngôi mộ có ba ngày thôi cho nên đâu cần phải quá tốn phí
cho một thi hài, dù thi hài đó là thi hài của một vị tổng thống!)
2. Phải
nói là tình cảm của Maria Mađalêna đối với Chúa Giêsu thật hết sức đậm đà: Khi
không thấy xác Chúa Giêsu, bà khóc. Cả thế giới này không còn một ý nghĩa gì đối
với bà nữa. Thiên thần hiện ra bà coi như không! Chính Chúa Giêsu ở trước mặt
mà bà cũng tưởng là người giữ vườn. Nhưng rồi khi bà nhận ra Chúa, bà đã vui mừng
hớn hở chạy đi báo tin cho mọi người ngay. Tóm lại, đối với Maria, Chúa Giêsu
là tất cả. Mất Chúa Giêsu cả thế giới như sụp đổ. Gặp lại Chúa là có lại tất cả.
Người ta
kể lại vào hồi Đức Quốc xã giam giữ những người có đạo, có một người đàn bà rất
nổi tiếng tên là Archengette. Bà Archengette bị giam cùng với hàng trăm ngàn
người khác. Có lần bà đã kể lại: Một buổi chiều kia, một cô bạn tù ghé vào tai
tôi se sẽ hỏi:
- Chị có
biết ngày mai là ngày gì không? Mai là lễ Phục Sinh đấy chị ạ.
Tôi ngạc
nhiên nói bâng quơ:
- Đã đến
lễ Phục Sinh rồi sao?
Lễ Phục
Sinh là ngày lễ trọng, và là ngày vui của toàn thể nhân loại, vì Chúa Giêsu đã
sống lại, để mở cánh cửa cuộc sống trường sinh cho con người, thế mà chúng tôi
lại bị giam giữ trong căn nhà tù này, xa cách mọi người thân yêu, cô đơn, đau
khổ...Tôi đi đi lại lại trong căn nhà chật hẹp, hôi hám. Đầu óc thì còn đang
theo đuổi những ý tưởng vừa mới xuất hiện. Mặt mũi buồn so.
Bỗng tôi
nghe thấy có tiếng kêu lớn, phá tan bầu không khí im lặng đang nặng nề đè trên
chúng tôi. Tiếng kêu ấy thế này: “Chúa Kitô đã sống lại”.
Tôi kinh
ngạc nhìn cô bạn tù. Đôi mắt cô long lanh. Hai hàng giọt lệ đang từ từ chảy ra,
để cho chúng lăn trên đôi gò má cao nhô lên giữa khuôn mặt xanh xao gầy ốm của
cô. Thế rồi bỗng khuôn mặt ấy tươi hẳn lên.
Tiếp đó từ
trong các phòng khác của nhà tù, tôi đều nghe thấy tiếng trả lời, tưởng như tiếng
vang vọng không ngừng:
“Chúa
Kitô đã sống lại... Chúa Kitô đã sống lại”.
Những tiếng
phát ra từ trong các phòng nhà tù đó, đã trở thành một điệp khúc như của một
bài ca chiến thắng.
Bọn
lính canh tù bực tức đến tột độ. Gương mặt của chúng hằm hằm giận dữ. Rồi chúng
mở cửa phòng chúng tôi đang ở, nhào vào, lôi cô gái bạn tù ốm yếu của chúng tôi
đi...
Bốn ngày
sau, cô được trả trở về phòng với chúng tôi. Cô bé của chúng tôi thật là đáng
thương. Đôi má của cô đã hóp, sau 4 ngày lại càng hóp thêm. Gương mặt xanh như
tầu lá. Lúc sau nhờ cô kể lại chúng tôi mới biết, cô đã bị nhốt trong một căn
phòng chật hẹp tối tăm và phải nhịn đói suốt 4 ngày nay. Tôi còn nhớ thật rõ
lúc chạy ra cửa để dìu cô vào phòng, cô thều thào nói với tôi:
- Chị ơi,
em đã loan báo sứ điệp Phục Sinh trong nhà tù này. Tất cả mọi chuyện khác đều
không quan trọng.
Nếu ngày
xưa đã có những người như Mađalêna, đã có cô bé can đảm dám loan báo Tin Mừng
Phục Sinh cho mọi người thì ngày nay cũng phải có những người can đảm như Maria
Mađalêna, như cô bé trong nhà tù! Thế giới hôm nay, một thế giới càng ngày càng
trở nên xa lạ với Chúa Giêsu đang cần những con người như thế.
Lạy
Chúa, giữa thế giới đầy bận rộn và náo nhiệt này, xin cho chúng con biết lắng
tai nghe tiếng Chúa. Xin hãy mở rộng đôi tay còn khép kín của chúng con, để
chúng con biết mau mắn thi hành “sứ điệp” Chúa gửi đến cho chúng con trong cuộc
sống hằng ngày. Amen.
THỨ HAI TUẦN BÁT NHẬT PHỤC SINH
Mt 28,8-15
"Các
bà vội vã rời khỏi mộ, tuy sợ hãi nhưng cũng rất đỗi vui mừng,
chạy về báo tin cho môn đệ Đức Giê-su hay.” (Mt 28,8)
chạy về báo tin cho môn đệ Đức Giê-su hay.” (Mt 28,8)
Các bài
Tin Mừng trong tuần bát nhật Phục sinh đều tường thuật về những cuộc hiện ra của
Chúa Giêsu sau khi Chúa sống lại. Phụng vụ đã chọn những bản văn có trong 4 quyển
Tin Mừng để trình bày cho chúng ta thấy bốn cái nhìn khác nhau nhưng bổ túc cho
nhau, về sự kiện Chúa Giêsu chịu chết và sống lại.
1. Hôm
nay thánh Mátthêô thuật lại những chuyện xảy ra vào buổi sáng Phục sinh:
Các phụ nữ
đến mồ, thấy mồ trống. Họ gặp thiên thần. Thiên thần cho họ hay Chúa Giêsu đã sống
lại và bảo họ đi báo tin cho các môn đệ, bảo cho các môn đệ biết là Chúa chờ họ
tại Galilê.
Sự Phục
sinh của Chúa Giêsu đã nâng mối liên hệ giữa Chúa với các môn đệ lên một bậc: họ
trở thành anh em của Ngài. Chúa đã gọi môn đệ “anh em”:
Và cuối
cùng chúng ta thấy tiền bạc lại được sử dụng vào những mục đích xấu: Người ta
đút tiền cho bọn lính canh để mua chuộc chúng. Tiền bạc lại một lần nữa làm
xuyên tạc sự thật.
2. Vâng
việc Chúa sống lại rõ ràng đã đem lại nhiều thay đổi thật là lùng:
+ Những
người có liên hệ với Chúa sẽ không còn sợ hãi nữa. Với việc Chúa Phục
Sinh những người phụ nữ đã biến nỗi “sợ hãi” khi chứng kiến việc Chúa chịu nạn
chịu chết, sang lòng “kính sợ” trước quyền năng của Thiên Chúa. Lòng “kính sợ”
này đi kèm với niềm “vui mừng hớn hở”. Vâng đó là một kết quả hết sức bất ngờ đối
với các bà đạo đức. Khi con người thực sự tin vào quyền năng Chúa, thì họ sẽ
không còn “sợ hãi” bất cứ điều gì nữa, thậm chí họ còn có thể “vui mừng hớn hở”
trong bất cứ tình huống nào, kể cả cái chết.
Một tu sĩ
dòng tên thuật lại câu trả lời đầy xúc động sau đây của một thủy thủ sắp chết.
Anh luôn sống đạo đức. Đây là điều hiếm ở nơi các thủy thủ, và trong buổi sáng
hôm đó, anh nhận của ăn đàng. Buổi chiều, khi linh mục đến để gặp lại anh và thấy
anh rất yếu, bèn hỏi:
- Con đã
sẵn sàng cho chuyến đi lớn lao chưa?
- Thưa
Cha, hoàn toàn sẵn sàng.
- Con
không sợ ư?
- Sợ? Con
sợ ư? Nhưng tại sao lại sợ?
Và đặt
tay lên ngực, nơi Chúa ngự đến buổi sáng, anh nói thêm:
- Hoa
tiêu đã xuống thuyền, vậy con còn sợ gì nữa chứ?
+ Chúa
Giêsu Phục sinh đã gọi các môn đệ là “anh em” của Ngài. Sự Phục sinh của
Chúa không những đã cứu chuộc loài người, trả lại cho loài người quyền làm con
Thiên Chúa, lại còn biến con người trở "anh em" với Chúa Giêsu! Đây
là một hồng ân thật cao cả lớn lao hơn tất cả những hồng ân khác.
Một người
hát thánh ca rất nổi tiếng của Mỹ được mời lên một con tàu chở khách, để hát
cho những hành khách trên tàu nghe.
Đêm đó, tất
cả những hành khách tập hợp trên boong tàu để thưởng thức tiếng hát rất hay của
anh.
Tiếng hát
của anh ta làm tất cả khán giả rung động tâm hồn. Khi anh ta vừa hát xong, thì
một ông khách cao to, da đen bước đến bên cạnh anh hỏi:
- Xin hỏi,
trước đây anh đã từng đầu quân ở Bắc Mỹ phải không? Anh có còn nhớ vào một đêm
trăng sáng năm 1862, anh đứng gác trên một vọng gác không?
- Tôi nhớ.
Anh ta đáp. Nhưng trong lòng hơi lo lắng vì không hiểu ý của ông ta muốn gì.
- Phần
tôi, tôi còn nhớ rất rõ. Người đó nói. Lúc đó tôi đang ở bên đối địch với anh.
Tôi nhìn thấy anh đứng trên vọng gác. Anh ở chỗ sáng. Tôi ở trong tối, nhất cử
nhất động của anh tôi đều thấy rõ. Khi tôi định lên đạn, thì nhìn thấy anh đang
chuẩn bị cất tiếng hát. Thật lòng tôi muốn bắn anh ngay nhưng tự nhiên có cái
gì đó cản lại, chờ cho đến khi anh hát xong thì tôi sẽ bắn. Bài hát hôm đó cũng
đó cũng chính là bài hát anh vừa mới hát. Những lời trong bài hát ấy đã khiến
tôi rất xúc động. Thế là tôi không còn can đảm để có thể bắn anh nữa”.
Nghe tới
đây, người hát thánh ca không cầm được nước mắt. Anh giang rông hai cánh tay ôm
chầm láy ông khách.
Một bài
hát đã đánh đổi được một mạng người, làm cho kẻ thù trở thành bạn bè. Việc đó
quả là một điều kì diệu.
Trên chiến
trường trước kia, họ là kẻ thù của nhau, nhưng bây giờ họ đã trở thành bạn bè.
Việc Chúa
Phục sinh đã làm cho các môn đệ và cả chúng ta trở thành anh em của Ngài. Đây
là một hồng ân. Hãy tạ ơn Thiên Chúa và Chúa Giêsu muôn đời.
Lạy Chúa,
xin làm cho tâm hồn chúng con tràn ngập niềm vui của những người được Chúa cứu
chuộc, để chúng con biết đem sinh khí đến cho những người đang tuyệt vọng, đem
nụ cười đến cho kẻ đang khóc than, làm tươi trẻ những tâm hồn héo úa, dọi ánh
sáng vào nơi tối tăm, xây dựng nên một thiên đàng của Chúa trên trần thế hôm
nay. Amen.
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)